Bản word
Làng Chèm nằm ở bên bờ sông Cái, ngoại thành Đại La (1). Về cuối thời vua Hùng, làng rất trù phú, trên bến dưới thuyền. Dân làng sống trong cảnh thanh bình, ấm no. Trong làng có nhà họ Lý, sinh được một con trai, đặt tên là Lý Ông Trọng. Lúc bé, Ông Trọng là đứa trẻ bụ bẫm, khỏe mạnh. Lớn lên, chú bé ấy trở thành một trang nam nhi vạm vỡ, sức khỏe phi thường. Việc dời đá, vác cây, bao nhiêu sức người xúm vào không nổi, thì Ông Trọng làm dễ như trở bàn tay.
Năm ấy, vào mùa nước nổi (2), trên khúc sông cạnh làng có thuồng luồng (3) về quấy phá. Chúng ăn thịt cả người và súc vật khi qua lại khúc sông này. Một hôm, người mẹ hiền của Lý Ông Trọng ra sông múc nước, bị thuồng luồng kéo đi mất. Chàng đau đớn, vật vã khóc thương mẹ suốt ba ngày, rồi lặn xuống sông tìm hang ổ của thuồng luồng. Chàng kẹp cổ từng con, lôi lên bờ giết chết, rồi chàng lấy đầu thuồng luồng làm lễ tế mẹ. Chàng còn bỏ công giúp dân làng sửa sang lại thuyền bè bị thuồng luồng quật vỡ… Dân vùng ấy mừng vui khôn xiết, mở tiệc đãi Ông Trọng. Cuộc sống trở lại yên bình, mọi người yên tâm quăng chài thả lưới, qua lại hai bên bờ sông làm ăn.
Lời ngợi khen chàng trai làng Chèm dũng cảm, có sức khỏe phi thường bay đi khắp nơi. Đức vua nghe tin, sai người vời Ông Trọng về kinh đô. Vua lại cho các tướng thử tài, thử sức với chàng. Quả đúng như lời đồn, Lý Ông Trọng có sức mạnh địch được muôn người. Vua mừng lắm, liền cho chàng làm thị vệ (4), ngày đêm được ở bên vua.
Lúc bấy giờ, nước láng giềng đang gặp nạn giặc Hung Nô quấy nhiễu. Quan quân đã bao lần giáp chiến nhưng đều không dẹp được. Nhà vua nước ấy đang ngày đêm lo nghĩ. Đất đai bị xâm chiếm, cuộc sống của dân lành bị nhũng nhiễu, cả một vùng biên ải (5) hoang tàn, xơ xác. Đang chưa tìm được kế hay để phá giặc thì nhà vua láng giềng nghe tiếng tăm của Ông Trọng lan truyền sang, có người tâu với ngài rằng: “Thần nghe nói nước Nam có Lý Ông Trọng sức địch muôn người. Hay là sang bên ấy nhờ giúp?”
Nhà vua láng giềng liền cử sứ giả sang nước Nam. Viên sứ giả nhận lệnh, vội vã phóng ngựa đi ngay, suốt đêm ngày không dám nghỉ. Mấy ngày sau đã tới được kinh đô nước Nam, xin vào yết kiến đức vua. Sứ giả thuật lại mọi chuyện và ngỏ ý mời người hiền tài sang giúp. Đức vua ban chiếu để Ông Trọng sang giúp nước láng giềng. Vua lưu luyến tiễn người thị vệ ra tới tận cửa thành. Ông Trọng từ biệt quê hương sang xứ người dẹp giặc.
Sang nước bạn, Ông Trọng được cử ngay làm đại tướng dẫn quân ra trận. Ông chia quân trấn giữ những nơi hiểm yếu dọc dải biên cương. Rèn cho quân sĩ thông thạo cách đánh trận nơi rừng. Mỗi khi ra trận, vị tướng nước Nam tả xung hữu đột (6) giữa trận tiền, dưới vó ngựa của ông, quân giặc gục ngã la liệt. Quân tướng đồng lòng đánh giặc, đánh đâu thắng đấy. Từ đó quân Hung Nô hễ thấy Ông Trọng thì khiếp sợ cho là thần linh giáng trần nên chưa đánh, chúng đã chạy tan tác. Tên nào cứng bóng vía, liều chết xông lên, lập tức bị tráng sĩ diệt ngay tại trận. Cả vùng biên ải trở lại bình yên…
[…] Ngày nay, vẫn còn đền thờ Lý Ông Trọng – hay còn được gọi là đền Đức Thánh Chèm – nằm bên đê Chèm nơi làng của Ông Trọng khi xưa.
(Lý Ông Trọng, Hồng Hà (Biên soạn), NXB Kim Đồng, xuất bản năm 2022)
Chú thích
(1) Đại La: nay thuộc Hà Nội
(2) Mùa nước nổi: nước dâng cao hơn bình thường
(3) Thuồng luồng: một loài thủy quái dạng rồng trong những câu chuyện dân gian Á Đông.
(4) Thị vệ: những người có nhiệm vụ hầu cận và bảo vệ một nhân vật quan trọng, thường là vua, hoàng tử hay các thành viên của hoàng gia trong triều đình.
(5) Vùng biên ải: vùng biên giới giữa hai nước.
(6) Tả xung hữu đột: xông pha cả hai bên trái và phải.
