
Đặc điểm thơ Haiku (Nhật Bản)
Hai-cư là thể thơ truyền thống có vị trí quan trọng trong văn học Nhật Bản, đồng thời được xem là một trong những hình thức cô đọng nhất của thơ ca thế giới. Bài thơ hai-cư trong tiếng Nhật chỉ gồm 3 dòng (dòng 1 và dòng 3 có năm âm tiết; dòng 2 có bảy âm tiết). Bản dịch tiếng Việt trong sách giáo khoa tuy không đáp ứng được đầy đủ yêu cầu của luật thơ nêu trên nhưng vẫn đảm bảo sự ngắn gọn, hàm súc đặc trưng của thể thơ này. Thơ Hai-cư thường biểu hiện những rung cảm của con người trước thiên nhiên bằng những hình ảnh trong sáng, nhẹ nhàng nhưng cũng đậm tính tượng trưng.
Khởi nguồn từ Nhật Bản, ngày nay, hai-cư đã trở thành thể thơ được sáng tác bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới. Thơ hai-cư hiện đại tuy có những đặc điểm riêng về bút pháp nhưng vẫn bảo lưu một số nguyên tắc quan trọng của tư duy và mĩ cảm thơ hai-cư truyền thống như bài thơ được cấu tứ quanh một phát hiện mang tính chất ‘bừng ngộ” về mối quan hệ giữa các sự vật, hiện tượng, về sự tương thông đầy bí ẩn giữa thế giới và con người; thơ thiên về khơi gợi hơn là miêu tả và diễn giải. Sức sống và sự hấp dẫn của thơ hai-cư nằm ở khả năng kiệm lời mà vẫn gợi nhiều cảm xúc và suy tưởng.
((Ngữ văn 10, tập 1, Bộ kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 46)
* Đặc điểm thể thơ Hai-cư:
– Thơ hai-cư thường cấu tứ xung quanh một khoảnh khắc của đời sống, trong đó, một trạng thái thẩm mĩ của thế giới được phát lộ. Khoảnh khắc ấy tương tự như khoảnh khắc đốn ngộ trong kinh nghiệm thiền vốn mang bản chất của một nhận thức thiên về trực giác hơn là suy luận duy lí. Bài thơ hai-cư kiệm mô tả và tuyệt đối không diễn giải, nó chỉ làm hiện lên một “bức tranh” được “vẽ” bằng bút pháp chấm phá đơn sơ, chứa nhiều khoảng trống nhưng gợi nhiều cảm xúc và liên tưởng. Đọc một bài thơ hai-cư là tập “ngắm nhìn” một thế giới tưởng như đã quen thuộc trong những tương quan mới, nhờ đó, thế giới ấy hiện lên tinh khôi hoặc hé mở những chiều sâu ý vị.
– Thơ hai-cư Nhật Bản kết tinh trong mình những cảm thức thẩm mĩ đặc trưng của người Nhật Bản. Có thể nói đến một số cảm thức thẩm mĩ như:
-
aware (hay nói đầy đủ hơn là mono no aware): Theo diễn giải của nhà nghiên cứu Nhật Chiêu, aware “thường được hiểu là bi cảm, một cảm thức xao xuyến trước mọi cái đẹp của sự vật mà bản chất là vô thường”. Đó là nỗi buồn trước trạng thái mong manh, không vĩnh viễn ngay cả những gì là đẹp nhất. Nỗi buồn ấy không bi lụy, bi tráng mà thâm trầm, u uẩn.
-
yugen: Theo Nhật Chiêu, yugen có thể là dịch là “u huyền”. Đó là cảm thức về sự bí ẩn, sâu thẳm của thế giới. Sự bí ẩn, sâu thẳm ấy không làm người ta rợn ngợp, sợ hãi mà ngược lại, nó mở rộng nhận quan của con người, làm người ta nhìn mọi sự vật trong thế giới này với một thái độ nâng niu.
-
sabi: Có thể dịch là “tĩnh lặng”, “cô tịch”. Thơ hai-cư mở ra một thế giới lặng lẽ, đơn sơ, nhiều khoảng trống (nhưng không phải là sự trống rỗng). Cảm thức sabi gần gũi với yugen, bởi trong sự cô tịch, con người cảm nhận được chiều sâu của thế giới và nội tâm của chính mình.
-
wabi: Có thể dịch là “dung dị”, “thanh đạm”. Hai-cư không cần cái lộng lẫy, trác tuyệt để khơi gợi xúc động thẩm mĩ. Nó có thể mô tả những gì đời thường nhất nhưng bao giờ cũng gợi ra một vẻ đẹp gần gũi, ban sơ.
-
karumi: Có thể dịch là “nhẹ”. Thơ hai-cư hướng tới cái nhẹ nhàng, thanh thoát, làm toát lên phong thái ung dung, tự tại của cái nhìn nhà thơ và của các sự vật trong thế giới.
(Sách giáo viên, ngữ văn 10, tập 1, Bộ kết nối tri thức với cuộc sống, NXB Giáo dục Việt Nam, trang 59, 60)
