
TRI THỨC NGỮ VĂN – THƠ 6 CHỮ, 7 CHỮ, 8 CHỮ VÀ THƠ TỰ DO
1. Khái niệm
“Thơ sáu chữ, bảy chữ, tám chữ là những thể thơ được xác định dựa vào số chữ (tiếng) trong mỗi dòng thơ, gieo vần chân, ngắt nhịp linh hoạt.”
Thơ tám chữ là thể thơ trong đó mỗi dòng thơ có tám chữ (tiếng), ngắt nhịp đa dạng, gieo vần theo nhiều cách khác nhau nhưng phổ biến nhất là vần chân. Bài thơ tám chữ có thể gồm nhiều đoạn dài với số dòng không hạn định hoặc có thể được chia thành các khổ. Ví dụ, ở đoạn thơ dưới đây, mỗi dòng đều có tám chữ; các dòng thơ chủ yếu gieo vẫn chân; nhịp thơ linh hoạt, có thể là 2/6, 3/5, 4/4, 3/2/3,…
Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?
Đâu những bình minh cây xanh nắng gội,
Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
(Thế Lữ)
“Thơ tự do là thể thơ không có quy định bắt buộc về số dòng trong bài và số chữ ở mỗi dòng, về vần, bằng trắc và nhịp điệu.”
Thơ tự do là thể thơ không có quy định bắt buộc về số dòng trong bài và số chữ ở mỗi dòng, về vần, bằng trắc và nhịp điệu. Tất cả các yếu tố này đều có thể thay đổi tuỳ thuộc vào mục đích của người viết. Ví dụ, trong đoạn thơ sau, số chữ trong mỗi dòng thơ không đều nhau; các dòng thơ gieo vần hỗn hợp; nhịp thơ thay đổi qua từng dòng thơ và bỏ qua các nguyên tắc viết hoa thông thường:
chúng tôi qua cái khắc nghiệt mùa khô
qua mùa mưa mùa mưa dai dẳng
võng mắc cột tràm đêm
ướt sũng xuồng vượt sông dưới pháo sáng nhạt nhoà
đôi lúc ngẩn người một ráng đỏ chiều xa
quên đời mình thêm tuổi
chân dép lốp đạp mòn trăm ngọn núi
mà không hề rợp bóng xuống tương lai
(Thanh Thảo)
(Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2, bộ Cánh Diều, trang 33 – 34)
2. Yếu tố đặc trưng
- Kết cấu là sự sắp xếp, tổ chức các thành tố của bài thơ thành một đơn vị thống nhất, hoàn chỉnh, có ý nghĩa, tuỳ theo nội dung và thể thơ. Khi sáng tác, người viết có những mục đích nhất định về tư tưởng và nghệ thuật. Theo những mục đích ấy, tác giả sẽ xây dựng một kết cấu, nghĩa là bố trí, sắp xếp từ ngữ, các dòng hoặc khổ hay đoạn thơ để khắc hoạ hình tượng nghệ thuật và bộc lộ cảm xúc theo một trật tự nhất định. Kết cấu cho thấy tác phẩm sẽ bắt đầu từ đâu, kết thúc ở chỗ nào, yếu tố nào cần được nhấn mạnh,… Ví dụ: Trong bài thơ Quê hương, hình tượng quê hương được nhà thơ Tế Hanh thể hiện theo trật tự thời gian (hồi tưởng về quê hương trong quá khứ rồi trở về với hiện tại, trong đó tập trung vào việc hồi tưởng), từ đó bộc lộ cảm xúc và tư tưởng của nhà thơ đối với hình tượng ấy.
- Bố cục là bề mặt của kết cấu. Ở những tác phẩm có dung lượng ngắn, bố cục có thể trùng hợp với kết cấu. Ví dụ: Bài thơ Chiều xuân (Anh Thơ) gồm ba khổ thơ: khổ thứ nhất – cảnh chiều xuân “trên bến vắng”, khổ thứ hai – cảnh chiều xuân ở “ngoài đường đê”, khổ thứ ba – cảnh chiều xuân “trong đồng lúa”. – Ngôn từ là chất liệu của thơ.
(Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2, bộ Cánh Diều, trang 33 – 34)
- Ngôn từ thơ được cấu tạo đặc biệt: có vần và nhịp; có tính hàm súc, cô đọng nhờ việc sử dụng nhiều biện pháp tu từ; có những cách kết hợp từ mới và bất ngờ; giàu nhạc tính với những âm thanh luyến láy, từ ngữ trùng điệp, phối hợp bằng trắc,… Ví dụ: Trong bài thơ Quê hương, các dòng thơ được ngắt nhịp đa dạng, chủ yếu gieo vần chân; có nhiều biện pháp tu từ như nhân hoá, so sánh, liệt kê,…; có sự phối hợp bằng trắc rất linh hoạt.
- Chủ thể trữ tình: Chủ thể trữ tình thường xuất hiện trực tiếp với các đại từ nhân xưng: “tôi”, “ta”, “chúng ta”, “anh”, “em”,… hoặc nhập vai vào một nhân vật nào đó, cũng có thể là “chủ thể ẩn”. Các hình thức xuất hiện nêu trên của chủ thể trữ tình cũng có thể thay đổi, xen kẽ trong một bài thơ
- Hình ảnh: Hình ảnh trong thơ thường được tạo ra bới biện pháp tu từ: nhân hóa, so sánh, ẩn dụ,…nhằm tạo sức truyền cảm, sự phong phú, bóng bẩy cho ý thơ.
(Sách giáo khoa Ngữ văn 10, tập 1, bộ Chân trời sáng tạo, trang 63)
- Chủ đề thường được rút ra từ toàn bộ nội dung tác phẩm. Một số căn cứ để xác định chủ đề thơ: nhan đề, mạch cảm xúc, hình ảnh…(Sách giáo khoa Ngữ văn, tập 2, bộ Kết nối tri thức với cuộc sống, trang 45)
- Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận. Cảm hứng chủ đạo có sự nhất quán với đề tài và tư tưởng của tác phẩm. Đó có thể là những tình cảm khẳng định như ngợi ca, vui sướng, biết ơn, tin tưởng, yêu thương, đau xót, thương tiếc,…; nhưng cũng có thể là những tình cảm phủ định các hiện tượng tiêu cực, xấu xa như tố cáo, căm thù, phẫn nộ, châm biếm, mỉa mai, chế giễu,… Các tình cảm đó được gợi lên bởi những hiện tượng xã hội được phản ánh và hình tượng nghệ thuật được khắc hoạ trong tác phẩm, tạo thành nội dung cảm hứng chủ đạo của tác phẩm. Ví dụ: Cảm hứng chủ đạo trong bài Bếp lửa (Bằng Việt) là nỗi nhớ, tình thương, sự kính trọng và biết ơn bà của người cháu.
- Tư tưởng của tác phẩm là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức mà tác giả muốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc. Tư tưởng là linh hồn của văn bản. Ví dụ: Chủ đề của bài Bếp lửa là những hồi tưởng, suy tư về bà của người cháu khi đã trưởng thành và đi xa. Qua bài thơ, tác giả cho thấy trong thế giới hoài niệm của người cháu, bà là người đã trải qua nhiều gian khổ, cơ cực; bà không chỉ là người nhóm lửa, người giữ lửa mà còn là người truyền lửa – ngọn lửa của sự sống, niềm tin cho các thế hệ nối tiếp.
(Sách giáo khoa Ngữ văn 9, tập 2, bộ Cánh Diều, trang 33 – 34)
